Lịch sử trà của Trung Quốc đã có từ lâu đời và rất phức tạp, người Trung Quốc đã hình thành sở thích uống trà trong cả thiên niên kỷ. Các học giả ca ngợi trà như một phương pháp chữa trị cho nhiều loại bệnh, giới quý tộc coi việc uống trà ngon như một cách để thể hiện địa vị của họ, và những người ở tầng lớp bình thường uống trà với mục đích chỉ đơn giản là thưởng thức hương vị của nó. Vào năm 2016, các nhà khảo cổ đã phát hiện ra bằng chứng vật lý sớm nhất được biết đến về trà từ lăng mộ của Hoàng đế nhà Hán – Hán Cảnh Đế (mất năm 141 TCN) ở Tây An, điều này cho thấy rằng trà từ giống Camellia đã được các hoàng đế nhà Hán sử dụng từ thế kỷ thứ 2 TCN. Sau đó trà trở thành thức uống phổ biến trong các triều đại nhà Đường (618–907) và Tống (960–1279).

Theo truyền thuyết, trà được phát hiện lần đầu tiên bởi một vị hoàng đế – nhà thảo dược trong huyền thoại của Trung Quốc – Thần Nông, vào năm 2737 TCN. Người ta nói rằng vị hoàng đế này thích uống nước đã được đun sôi để nó được sẽ sạch sẽ. Một ngày nọ, trong một chuyến đi đến một miền xa, ông và đoàn quân của mình dừng lại để nghỉ ngơi. Một người hầu bắt đầu đun nước cho ông uống, và một chiếc lá rụng từ bụi trà dại rơi xuống nước. Sau đó lá trà chuyển sang màu nâu, nhưng các tùy tùng của ông đã không chú ý đến chiếc lá trà trong nước và nước đã được trình lên vị hoàng đế. Ông ấy đã uống thứ nước này và cảm thấy rất sảng khoái, từ đó cha (trà) ra đời.

Erya – một từ điển của Trung Quốc có niên đại vào thế kỷ thứ 3 trước Công nguyên, đã ghi lại rằng một loại lá cây nào đó đã được sử dụng sớm nhất vào thời nhà Chu (1046–256 TCN).

Trong lịch sử, các ghi chép về trà ghi lại rằng trà được sử dụng như một loại dược liệu giúp con người tỉnh táo tuy nhiên các bằng chứng chưa được rõ ràng. Trung Quốc được coi là nơi có những ghi chép sớm nhất về việc uống trà, việc sử dụng trà được ghi lại trong lịch sử từ thiên niên kỷ đầu tiên TCN. Vào thời nhà Hán (206 TCN – 220 SCN) đã sử dụng trà làm thuốc. Trà được sử dụng như một đồ uống trong các dịp lễ hội ăn chơi hưởng lạc từ thời nhà Đường (618–907 SCN) hoặc sớm hơn.

The Classic of Tea (《茶 經》- Trà Kinh) của nhà văn thời Đường – Lục Vũ (陸羽) (729-804) là tác phẩm đầu tiên viết về trà. Theo cuốn Trà Kinh viết, vào khoảng năm 760 SCN, việc uống trà đã được phổ biến rộng rãi. Cuốn sách đã mô tả cách trồng chè, chế biến lá trà và cách pha trà. Cuốn sách cũng đưa ra cách đánh giá các loại trà đồng thời cũng thảo luận về nơi những loại trà tốt nhất được sản xuất. Vào thời điểm này, thực tế các loại đồ uống và phong cách pha trà hoàn toàn khác so với cách sử dụng trà của người phương Tây ngày nay. Lá trà được chế biến thành dạng bánh nén. Các bánh trà khô thường được gọi là “brick tea” hay “Trà chuyên”, “bánh trà gạch” được xay trong cối đá. Trà được pha theo hai cách, cho nước nóng vào một mẩu bánh trà hoặc bánh trà sẽ được đun sôi trong ấm đất nung. Ở Nhật Bản họ sử dụng matcha – một loại trà xanh dạng bột, loại trà có nguồn gốc từ các phong tục Trung Quốc cổ hơn.

Một dạng trà nén được gọi là trà trắng đã được sản xuất từ thời nhà Đường (618–907 CN). Trà trắng được hái vào đầu mùa xuân, khi những bụi trà đã phát triển rất phong phú đầy đặn, chúng trông giống như những chiếc kim màu bạc. Những “búp non đâu tiên – 1 tôm” được sử dụng làm nguyên liệu thô để tạo ra trà bánh nén. Trà là một thứ đồ uống rất quan trọng trong văn hóa Trung Quốc và được đề cập là một trong bảy nhu cầu thiết yếu của cuộc sống thường nhật của người Trung Quốc. Trà cũng được sử dụng như một liệu pháp thư giãn đối với người Trung Quốc.

Năm 1753, Linnaeus đã cho rằng giống trà Thea sinensis này là loài duy nhất. Tuy nhiên, sau đó, ông đã công nhận rằng có hai loài Thea Bohea và Thea viridis đã được trồng ở Trung Quốc, và đã từ lâu người ta cho rằng hai giống cây này là nguồn gốc của trà đen và trà xanh.

Sao và pha trà

Sao trà

Hấp lá trà là quy trình chính được sử dụng trong nhiều thế kỷ trong quy trình chế biến trà. Sau khi chuyển đổi từ chè nén, việc sản xuất trà cho mục đích buôn bán và phân phối lại một lần nữa thay đổi. Người Trung Quốc đã học cách chế biến trà theo một cách khác vào giữa thế kỷ 13.

Lên men

Sau khi cắt, trà phải trải qua một quá trình được gọi là “lên men”. Quá trình này không thực sự là quá trình lên men, quá trình này là một quá trình kỵ khí , nói đúng hơn là một quá trình oxy hóa bằng enzym của polyphenol trong lá trà, tạo ra theaflavins và thearubigin . Khi lá trà đã khô, quá trình lên men sẽ dừng lại, điều này cho phép việc kiểm soát quá trình lên men bằng cách điều chỉnh độ sấy hoặc thêm nước sau khi sấy. Quá trình lên men cũng có thể bị gián đoạn bởi nhiệt độ, ví dụ như có thể kiểm soát quá trình lên men bằng cách hấp hoặc dry-panning trà thông qua một kỹ thuật được gọi là “shāqīng” (殺青). Vào thế kỷ 17, Trung Quốc đã có nhiều tiến bộ lớn trong sản xuất trà. Ở phần phía Nam của Trung Quốc, lá trà được phơi nắng và sau đó lên men bán phần để làm trà ô long hoặc “black dragon tea”. Tuy nhiên, phương pháp làm trà này lại không được phổ biến ở phần còn lại của Trung Quốc. Trà được còn sử dụng cho các mục đích y tế chữa bệnh và muối thường được cho thêm vào trà để làm thay đổi tính đắng của trà.

Trà trong các câu chuyện thần thoại

Như Lục Vũ đã viết trong Classic of Tea (Trà Kinh) (茶 经), “Trà như một thức uống có nguồn gốc từ Thần Nông.”

Cuốn sách có tiêu đề Shennong Ben Cao Jing (Thần Nông bản thảo kinh) (神农 本草 经) đã nói rằng “Thần Nông đã thử qua hàng trăm loại thảo mộc, ông đã gặp phải 72 chất độc và ông đã sử dụng trà như một loại thuốc giải độc”

Trong truyền thuyết Trung Quốc, Thần Nông chết ở Đồi Trà (huyện Chaling), Hồ Nam.

Nguồn gốc của cây chè ở Trung Quốc

* Vào năm 760 SCN, Lục Vũ đã ghi nhận rằng: Trà là một cây đại thụ từ phương Nam, cao từ một, hai và lên đến vài chục Chi. Một số cây có chu vi lên đến 2m (6,6 feet).

* A. Wilson trong chuyến khám phá khu vực đông nam Trung Quốc đã phát hiện ra những bụi chè cao tới 10 feet trên núi cao ở Tứ Xuyên

* Năm 1939, các nhà thực vật học đã phát hiện ra một cây trà dại dài 7,5m (24,6 feet) ở quận Wuchuang của tỉnh Quý Châu.

* Vào năm 1940, trên ngọn núi Old Eagle thuộc quận Wuchuang, một cây chè dại cao 6,6m (21,7 feet) đã được phát hiện.

* Năm 1957, một cây trà dại cao 12m (39,4 feet) đã được phát hiện ở quận Cheshui của Quý Châu.

* Vào năm 1961, một cây chè dại 1700 năm tuổi, cao 32m (105 feet) và rộng hơn 1m (3,3 feet) đã được tìm thấy trong rừng mưa ở Vân Nam. Cây chè này chính là vua của các loại cây chè.

* Vào năm 1976, một cây trà dại cao 13m (42,3 feet) được tìm thấy ở quận Daozhen (quận cực bắc tỉnh Quý Châu), trên một ngọn núi ở độ cao 1400m (4600 feet) so với mặt nước biển.

* Nhiều cây chè hoang dã được tìm thấy ở các vùng núi thuộc tỉnh Tứ Xuyên, Vân Nam và Quý Châu, nhiều cây cao hơn 10m.

Từ nguyên

  • Trà được gọi là ‘tu’ (荼) (trong tập thơ kinh điển cổ xưa của người Trung Quốc Shi Jing (Sách ca)).
  • Trà còn được gọi là ‘jia’ (檟) trong các tập từ điển kinh điển cổ đại của Trung Quốc – Erya được biên soạn vào đầu thời nhà Hán: “Jia is bitter tu”. Từ “tu” được một học giả nhà Tấn, Guo Pu (276–324 SCN) chú thích thêm : “Tu là một loại cây nhỏ, lá của nó có thể ủ thành đồ uống”.
  • Trà cũng được gọi là “She” (蔎) trong một đề tài nghiên cứu (chuyên khảo) Tây Hán về tiếng địa phương : Fang Yian.
  • Trong thời Hán , từ “tu” có một cách phát âm mới, ‘cha’, ngoài cách phát âm cũ của nó là ‘tu’.

Âm tiết ‘tu’ (荼) sau đó phát triển thành ‘te’ trong tiếng địa phương ở Phúc Kiến, và sau này là ‘tea”’, ‘te’.
Âm tiết ‘she’ (蔎) sau này trở thành ‘soh’ ở tỉnh Giang Tô , ‘Sakh’ của Suleiman cũng xuất phát từ ‘she’.
Âm tiết “jia” (檟) sau này trở thành “cha” và ” chai ” (dùng ở Nga và Ấn Độ).
Trong các triều đại nhà Tùy và nhà Đường , uống trà đã trở thành một phong tục phổ biến, sau đó lan rộng về phía tây đến Tây Tạng.Lần đầu tiên từ ‘cha’ thay cho từ ‘tu’ để gọi trà được sử dụng trong Cha Jing (Trà Kinh) của Lục Vũ , The Classic of Tea năm 760 SCN.

Các giai đoạn trong lịch sử của trà.

  • Từ thời tiền sử đến thời Xuân Thu (221 TCN) Trà được dùng làm vật tế trong các nghi lễ.
  • Theo sử liệu Trung Quốc, c.1000 TCN, đã xuất hiện các trang trại chè ở Tứ Xuyên và Vân Nam.
  • Từ cuối thời Xuân Thu, đầu thời Tây Hán, trà đã được sử dụng như một loại rau để ăn.
  • Trong văn bản lịch sử của “Yianzhi Chunchiu” – tể tướng của nhà Chi (547 TCN – 490 TCN) đã có trứng và trà các món ăn trong thực đơn của ông.
  • Luận về ẩm thực của Xia Zhong:: “Từ đời Tấn, người dân nhà Ngô (nay là thành phố Tô Châu ) đã nấu lá chè làm thức ăn và gọi nó là canh chè (nước luộc chè)”.
  • Từ đầu Tây Hán đến giữa Tây Hán, trà được dùng làm thuốc.
  • Từ cuối thời Tây Hán đến thời Tam Quốc, trà là một loại đồ uống cung đình.
  • Từ triều đại Tây Tấn đến triều đại Tùy , trà trở thành một loại đồ uống phổ biến đối với người Trung Quốc
  • Từ thời Đường trở đi, trà đã trở thành một trong bảy thứ thiết yếu của cuộc sống thường nhật của người Trung Quốc
  • Trong triều đại Nam Tống một nhà sư Nhật Bản 明菴栄西 Eisai (Yosai) đến Thiên Thai núi Chiết Giang để nghiên cứu về Chan (Zen) – Phật giáo (1168 SCN); Khi trở về Nhật Bản vào năm 1193 SCN, ông đã mang theo trà từ Trung Quốc về Nhật Bản, ông đã trồng và viết cuốn sách tiếng Nhật đầu tiên về Trà Kissa Yojoki (喫茶養生記), Luận về các lợi ích sức khỏe của việc uống trà. Đây là sự khởi đầu của việc trồng trà và văn hóa trà đạo ở Nhật Bản.
  • Vào thời nhà Tống, trà trở thành một mặt hàng xuất khẩu lớn, bằng cách thông qua Con đường Tơ lụa – đường bộ và Con đường Tơ lụa trên đường biển, trà đã lan sang các nước Ả Rập và châu Phi .
  • Một số nhà sử học tin rằng, nhà thám hiểm Marco Polo đã bắt gặp trà trong chuyến du hành của mình. Các nhà sử học lại khác lại chỉ ra rằng các bài viết của ông hoàn toàn không đề cập đến trà.
  • Năm 1559, Giovanni ta Ramusio đề cập đến “chai” trong “Delle Navigatione et Viaggi”, Vol 6.
  • 1579, đã có hai du khách người Nga giới thiệu Cha đến Nga.

Sản xuất hàng loạt trà trắng

Các loại trà trắng ngày nay có thể bắt nguồn từ triều đại nhà Thanh vào năm 1796. Hồi đó, trà được chế biến và buôn bán dưới dạng trà lá rời, trà được sản xuất từ giống trà có tên “chaicha”. Trà trắng khác với các loại trà xanh của Trung Quốc ở chỗ quy trình làm trà trắng không trải qua quá trình hấp hoặc sao trên chảo để khử enzym, và trà trắng không trải qua quá trình tạo hình. Các loại trà trắng kim bạc được sản xuất từ những bụi trà “chaicha” lá gầy, nhỏ và không có nhiều lông màu trắng bạc.

Mãi cho đến năm 1885, các loại trà cụ thể mới được chọn để làm “Silver Needles” và các loại trà trắng khác. Những búp trà to, mập, nhiều nội chất của các bụi trà “Big White”, “Small White” and “Narcissus” được chọn để làm trà trắng cho đến tận ngày nay. Đến năm 1891, những loại bạch trà tốt nhất có búp to, hình kim bạc, có phủ lông tơ màu trắng đã được xuất khẩu, và việc sản xuất trà Bạch Mẫu Đơn cũng bắt đầu vào khoảng năm 1922.

Những chuyên khảo (nghiên cứu) đầu tiên về trà

Cuốn chuyên khảo đầu tiên về trà là cuốn Trà Kinh của nhà văn Lục Vũ thời nhà Đường được hoàn thành vào khoảng năm 760 SCN. Sớm hơn 400 năm so với chuyên khảo về trà đầu tiên của Nhật Bản của nhà sư Eisai. Còn ở Ẩn Độ cho đến nay chưa tìm được tài liệu cổ xưa nào về trà.

Có khoảng 100 chuyên khảo về trà từ triều đại nhà Đường đến triều đại nhà Thanh. Kho tàng về văn hóa trà này chỉ mới bắt đầu thu hút sự quan tâm của các học giả phương Tây.

Tài liệu tham khảo

  1. ^ Houyuan Lu et al. (7 January 2016). “Earliest tea as evidence for one branch of the Silk Road across the Tibetan Plateau”. Nature. 6: 18955. doi:10.1038/srep18955. PMC 4704058. PMID 26738699.
  2. ^ Liu, Tong (2012). Chinese Tea. The United States of America: Cambridge University Press. p. 1. ISBN 978-0-521-18680-3.
  3. ^ Yee, L. K. (1996–2012), Tea’s Wonderful History, The Chinese Historical and Cultural Project, retrieved 17 June 2013
  4. ^ Gray, Arthur (1903). The Little Tea Book. The Baker & Taylor Company, New York.
  5. ^ P.O. Owuor and I. McDowell (1994). “Changes in theaflavin composition and astringency during black tea fermentation”. Food Chemistry. 51 (3): 251–254.doi:10.1016/0308-8146(94)90023-X.
  6. ^ Helen Saberi (2010). Tea: A Global History. Reaktion Books. pp. 185.

#historyoftea #chinese

Nguồn: Trà bà Vân dịch: https://en.wikipedia.org/wiki/History_of_tea_in_China?fbclid=IwAR0x-8fpUvQE1WILXozTKQe3s42MbTyz1pcydhD9S77pYV2dcJwQagK_Smc